LUAT SU PHAM TAT THANG LUAT SU PHAM TAT THANG LUAT SU PHAM TAT THANG
Trang chủ Liên hệ
Sự kiện
Lúc 08 giờ ngày 15 tháng 01 năm 2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa nguyên đơn Công ty TNHH D.D.Đ.T và bị đơn là DNTN H.N. Trước đó ngày 29 tháng 08 năm 2008, vụ việc đã được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, trong đó tuyên bị đơn phải trả số tiền hàng còn thiếu và lãi suất trả chậm là 2,5%/tháng cho nguyên đơn.
Trong phiên tòa sơ thẩm, HĐXX dựa vào hợp đồng đã ký kết giữa hai bên đã tuyên như trên mà không xem xét đến tính hợp pháp của thỏa thuận hoàn toàn trái với điều 476 của Bộ Luật dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Phạm Tất Thắng là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đã  nêu lên vấn đề trên và đã được hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm và   Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đồng ý tuyên sửa một phần bản án cấp sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị đơn.
Ngoài ra trong phiên tòa phúc thẩm này, luật sư Phạm Tất Thắng còn chứng minh sự vi phạm tố tụng nghiêm trọng của Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm như : vi phạm về thành phần Hội đồng xét xử không có trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, không triệu tập người có quyền và nghĩa vụ liên quan để làm rõ các tình tiết của vụ án, vi phạm thời hạn xét xử, vi phạm nguyên tắc xét xử do đã xét xử vượt quá phạm vi yêu cầu của nguyên đơn và các vi phạm khác. Tuy nhiên, theo đánh giá của HĐXX cấp phúc thẩm những vi phạm như thế là không nghiêm trọng !?
 
  

HÀNH TRÌNH ĐÒI QUYỀN LỢI CỦA MỘT CÔNG TY

 

Ngày 05/03/2009, Toà phúc thẩm TAND TP.HCM đã mở phiên toà hình sự phúc thẩm đối với vụ án “Vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy”. Trong vụ án này, tranh chấp xoay quanh bồi thường thiệt hại về dân sự giữa nguyên đơn dân sự (Công ty TNHH TM-DV-QC Sông Hương) do VPLS Phạm Tất Thắng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và bị đơn dân sự (Công ty 27-7). Vụ án cũng được sự quan tâm rất nhiều từ phía báo chí.

Mặt bằng 73, Trần Bình Trọng, P.1, Gò Vấp là mặt bằng do Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội TP.HCM quản lý. SLĐTB và XH giao cho Công ty 27-7 là đơn vị trực thuộc sử dụng bao gồm xí nghiệp in 27-7, xưởng rượu, nhà kho, phòng làm việc. Công ty 27-7 chỉ sử dụng một phần căn nhà kho, còn một phần cho Công ty SH thuê để làm cơ sở in ấn.

Lúc 14g15 phút ngày 18/3/2007 tại địa điểm này đã xảy ra cháy. Nguyên nhân là do ông HVL, Quản đốc xưởng rượu công ty 27-7 thuê thợ vào làm lại vách ngăn khu nhà kho đã dùng máy hàn điện dẫn đến cháy.

Giai đoạn sơ thẩm VKS đề nghị tách vụ án dân sự và hình sự nhưng gặp phải sự phản đối của Luật sư nguyên đơn (LSNĐ). Lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra mâu thuẫn nhau và ngay tại phiên toà sơ thẩm bị cáo đã phản cung, nhận hết trách nhiệm về mình nên phiên toà sơ thẩm phải hoãn.

LSNĐ đã yêu cầu VKS xác định trách nhiệm hình sự của Ban lãnh đạo công ty 27-7 trong vụ cháy vì ông HVL đã vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy, thiếu trách nhiệm đối với công việc của mình dễn đến gây cháy và xác định trách nhiệm bồi thường là của công ty 27-7. Hồ sơ nhiều lần trả về cho CQĐT để điều tra bổ sung nhưng VKS vẫn giữ quan điểm của mình.

Cuối cùng bản án sơ thẩm đã nhận định cả hai bên đều có lỗi trong vụ cháy này bởi vì Công ty SH đã hết hạn hợp đồng thuê nhưng chưa dọn đi, thiệt hại hai bên cùng gánh chịu và 27-7 chỉ bồi thường ½ giá trị thiệt hại cho Công ty SH.

Không đồng ý với bản án, nguyên đơn dân sự kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, LSNĐ đã yêu cầu Toà án xem xét 2 vấn đề:

Thứ nhất: xác định người có nghĩa vụ bồi thường trong vụ án này

Công ty 27-7 thuê bị cáo vào làm việc theo hợp đồng thuê khoán có nghĩa bị cáo là người của Công ty. Vụ cháy xảy ra là do Ban lãnh đạo công ty 27-7 không làm tròn trách nhiệm kiểm tra, giám sát bị cáo, không tuân thủ các quy định về phòng cháy chữa cháy để xảy ra cháy nên nghĩa vụ bồi thường phải là Công ty 27-7.

Thứ hai: xem xét yếu tố lỗi của cả hai bên để xác định trách nhiệm bồi thường.

Yếu tối lỗi của Công ty 27-7 là để xảy ra cháy nên phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, và thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ.

Yếu tố lỗi của Công ty SH: chỉ được xét đến khi đây là vụ án tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng

Nếu Công ty 27-7 cho rằng mình bị thiệt hại do hết hạn hợp đồng thuê mà Công ty SH vẫn chưa dọn đi dẫn đến gây thiệt hại cho 27-7 thì 27-7 có thể khởi kiện một vụ án dân sự riêng về việc này.

Cuối cùng, Toà phúc thẩm đã xem xét đề nghị của LSNĐ, bản án tuyên buộc công ty 27-7 bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty SH

                        

 

                          XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ VỐN GÓP

                  CỦA MỘT BẢN HỢP ĐỒNG GÓP VỐN

 

Ngày 14/09/2009 tại trụ sở TAND TP. HCM đã mở phiên toà xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp chuyển nhượng hợp đồng góp vốn giữa nguyên đơn là bà T.T.M và bà C.T.M (Thành viên góp vốn của công ty TNHH Thương mại Lập Phương ) – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông T.P.H và bị đơn là nhạc sĩ V.Q.V và bà N.H.M.L.

Nội dung vụ kiện như sau: Vào ngày 19/04/2008 giữa nguyên đơn và bị đơn có ký với nhau hợp đồng chuyển nhượng phần góp vốn với nội dung là phía bị đơn sẽ nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của nguyên đơn tại Công ty TNHH Thương mại Lập Phương với tổng số tiền là 2,2 tỷ đồng. Đến ngày 20/10/2008 phía bị đơn đã thanh toán cho phía nguyên đơn số tiền là 1.230.476.660đ và sau đó đã không tiếp tục thanh toán đủ số tiền còn lại nên phía nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn thiếu đối với hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp là 990.476.000đ cùng với lãi suất 1%/1 tháng trên số tiền 1.066.666.000đ tính từ ngày 20/10/2008 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Tại phiên toà đại diện cho nguyên đơn là ông T.P.H vẫn giữ nguyên yêu cầu trên và Người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn – Luật sư T.N.B cho rằng số tiền mà phía bị đơn phải góp vào Công ty TNHH Thương mại Lập Phương là 2,2 tỷ, nhưng trên thực tế chỉ mới góp được 1.230.476.660đ, số tiền còn thiếu ông xác định đó là tiền nợ và ông yêu cầu phía bị đơn phải trả lại đầy đủ khoản nợ đó cùng với lãi suất 1%/1 tháng trên số tiền 1.066.666.000đ tính từ ngày 20/10/2008.

Về phía bị đơn, Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn – Luật sư Phạm Tất Thắng cho rằng hợp đồng góp vốn trên về nguyên tắc đã hoàn thành vì trong vốn điều lệ của Công ty TNHH Lập Phương chỉ có 1 tỷ đồng (điều này đã được hai bên xác định và thống nhất tại phiên toà), còn 1,2 tỷ đồng còn lại được xác định là tài sản vô hình, là giá trị thương hiệu của công ty. Điều này còn được thể hiện cụ thể qua việc sau khi phía bị đơn đã góp được số tiền như trên thì ngày 6/8/2008 Sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP. HCM đã cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh mới cho Công ty TNHH Thương Mại Lập Phương ghi nhận thành viên mới nhận chuyển phần vốn góp là 950.000.000đ (ông V.Q.V là 450.000.000đ, bà N.H.M.L là 500.000.000đ), phần vốn góp bà C.T.M là 50.000.000đ. Nhưng đến ngày 16/2/2009 bà T.T.M đã thanh lý hợp đồng thuê nhà với bà H.T.M.N (người cho bà T.T.M thuê mặt bằng để kinh doanh) mà không hề thông báo hay thỏa thuận lại với phía bị đơn, do vậy sau khi bà N lấy lại mặt bằng đã làm cho phía bị đơn không có mặt bằng để kinh doanh. Hành động này của bà T.T.M đã tước mất quyền kinh doanh của phía bị đơn.

Chính hành vi lấy nhà trên, tài sản vô hình là giá trị thương hiệu của Công ty TNHH Lập Phương cũng mất. Căn cứ vào Khoản 2, Điều 33 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 và Điều 5 BLTTDS Luật sư Phạm Tất Thắng đã đề nghị HĐXX công nhận việc chuyển nhượng vốn góp giữa phía nguyên đơn và phía bị đơn đã hoàn tất và không giải quyết yêu cầu thanh toán tiền của phía nguyên đơn – bà T.T.M, bà C.T.M vì không thuộc yêu cầu khởi kiện.          

Qua xem xét diễn biến tại phiên toà, HĐXX nhận thấy rằng những phân tích cũng như lời đề nghị của Luật sư Phạm Tất Thắng là có căn cứ nên đã chấp nhận lời đề nghị từ phía Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Vụ án cướp tiệm vàng Anh Sang

Ngày 23, 24 tháng 11 năm 2009 Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh mở phiên tòa hình sự xét xử theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án : “Cướp tài sản; tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng; che dấu tội phạm; không tố giác tội phạm và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có – vụ cướp xảy ra tại Tiệm vàng Anh Sang”.

Trong vụ án này, Luật sư Phạm Tất Thắng bào chữa cho bị cáo H.T.H bị truy tố về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”- tội phạm và hình phạt theo khoản 3 Điều 250 BLHS

Nội dung vụ án như sau: Vào ngày 08/8/2009, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thành Nghĩa và Đỗ Văn Tuấn cùng tổ chức cướp tiệm vàng Anh Sang tại Quận 7, TP.HCM. Khi thực hiện vụ cướp thành công và cũng tìm được đầu mối bán số vàng trên nên Nghĩa, Quang và Tuấn đã chia nhau số tiền 20.000USD và 6.000.000đ tiêu xài. Sau khi được chia tiền Nguyễn Thành Nghĩa (chồng bị cáo H.T.H) đã cùng H.T.H mua tủ lạnh, tivi, xe bán bánh mì, …cho bị cáo 200USD và trước khi bỏ trốn đưa bị cáo 4.000.000đ để nuôi con.

Vào ngày 09/10/2008, bị cáo đã đến công an phường Cầu Ông Lãnh đầu thú. Tuy nhiên, cán bộ công an phường Cầu Ông Lãnh đã không tiến hành lập biên bản về việc ra đầu thú của bị cáo mà đã gọi điện báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM và bàn giao bị cáo cho họ.

Khi nghiên cứu vụ án, bằng biện pháp nghiệp vụ Luật sư Phạm Tất Thắng đã hướng dẫn bị cáo làm đơn yêu cầu Công an phường Cầu Ông Lãnh xác nhận sự việc đầu thú. Tuy nhiên, sự việc vẫn không được giải quyết vì cho đến hiện nay, chưa có quy định nào của pháp luật cho phép luật sư tham gia tố tụng tại cơ quan Công an cấp Phường, xã nên tại cơ quan Công an Phường Cầu Ông Lãnh, luật sư không thể tham gia để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo do đó lợi ích bị cáo đã không được bảo vệ. Vì vậy, đến khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.Hồ Chí Minh, sự việc đầu thú của H.T.H mới được ghi nhận. 

Điều trăn trở khi tham gia bào chữa vụ án này là việc bị cáo còn con nhỏ, lại là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh neo đơn, chồng bị cáo - Nguyễn Thành Nghĩa chắc chắn phải ngồi tù, nếu bị cáo cũng phải ngồi tù thì không ai chăm sóc con nhỏ và cha mẹ. Nhưng khó khăn ở đây là bị cáo lại bị truy tố theo Khoản 3 Điều 250 BLHS với mức án từ 5 năm đến 10 năm, việc bào chữa để bị cáo được hưởng án treo là điều khó có thể.

Bằng lương tâm nghề nghiệp, Luật sư Phạm Tất Thắng đã hướng dẫn bị cáo làm tất cả mọi việc có thể, từ Đơn xin giảm nhẹ hình phạt, Đơn xin khắc phục hậu quả, xác nhận hoàn cảnh khó khăn…để bị cáo nộp cho Tòa án.

Và tại phiên tòa, bằng nghiệp vụ của mình luật sư Phạm Tất Thằng đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo:

Thứ nhất là về động cơ: từ đầu bị cáo đã không biết việc theo Nghĩa là để bán số vàng cướp được, do đó về ý chí đây không phải hành vi cố ý theo dấu hiệu bắt buộc của tội này.

Thứ hai: H.T.H không tham gia vào việc chia tiền, không tiêu thụ số tiền mà Nghĩa cho do đó Luật sư yêu cầu HĐXX xác định lại hành vi của bị cáo là tiêu thụ hay chứa chấp để định đúng tội bị cáo vì số tiền này dùng mua sắm vật dụng trong gia đình và nuôi con, bản thân H.T.H không được lợi ích gì từ việc này.

Thứ ba: làm rõ hoàn cảnh nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Luật sư Phạm Tất Thắng đã kiến nghị HĐXX quyết định hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố theo khoản 1 điều 250 BLHS và yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo.

Qua xem xét diễn biến tại phiên toà, HĐXX nhận thấy rằng những quan điểm bào chữa của Luật sư Phạm Tất Thắng cũng như lời đề nghị của Luật sư là có căn cứ nên đã chấp nhận yêu cầu của luật sư, tuyên bị cáo H.T.H 3 năm tù và cho hưởng án treo.

 

 

 

 

 

 

 

 78 Út Tịch, P.4, Q.Tân Bình, TP HCM
 Tel : 08-38117789 /  Fax : 08-38117790
Email: vpls78@gmail.com / Website: www.luatsuphamthang.com